Trong quá trình 25 xây dựng và phát triển của Trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng (TCCL) Việt Nam, công tác tiêu chuẩn hoá (TCH) cũng như hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) ngày càng được phát triển và đổi mới, góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, để công tác TCH thực sự trở thành công cụ quan trọng phục vụ phát triển kinh tế đất nước, yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh phát triển hệ thống TCVN theo hướng hội nhập quốc tế. 25 năm - Một chặng đường Ngày 20/5/1983, Trung tâm TCCL trực thuộc Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Nhà nước (nay là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) được thành lập theo Quyết định số 150/QĐ-TĐC của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ - KH&CN). Việc thành lập Trung tâm TCCL nhằm củng cố và phát triển cơ quan chuyên trách về nghiên cứu - phát triển công tác TCH và tổ chức xây dựng tiêu chuẩn quốc gia. Ngày 5/8/2004, Trung tâm TCCL được đổi tên thành Trung tâm TCCL Việt Nam (theo Quyết định số 140/2004/QĐ-TTg). 
Trong suốt 25 năm xây dựng và phát triển, bằng những kết quả nghiên cứu khoa học, lý luận - nghiệp vụ có tính ứng dụng thực tiễn cao, Trung tâm đã có những đóng góp quan trọng trong đổi mới hoạt động TCH phù hợp với cơ chế quản lý của từng thời kỳ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trung tâm đã tham gia tích cực vào việc biên soạn dự thảo Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1991, Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa (sửa đổi) năm 1999 cùng các nghị định hướng dẫn thi hành các Pháp lệnh này, dự thảo Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 (Luật số 68/2006/QH11), dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật (Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1.8.2007). Trung tâm còn tham gia vào việc xây dựng hàng chục văn bản pháp quy cấp liên bộ, bộ và tổng cục… Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước và hàng chục đề tài các cấp khác đã và đang được Trung tâm triển khai thực hiện, đề cập đến những vấn đề khác nhau của hoạt động TCH là nền tảng khoa học để xây dựng lý luận, nghiệp vụ; các tài liệu hướng dẫn; các chính sách, phương hướng và biện pháp để đổi mới và phát triển công tác TCH ở nước ta trong những năm qua và sắp tới theo hướng tăng cường sự hội nhập vào hoạt động TCH khu vực và quốc tế. Cùng với sự đổi mới của đất nước, công tác xây dựng TCVN cũng được đẩy mạnh và đổi mới. Từ năm 1994 đến nay, bằng việc sử dụng phương pháp xây dựng TCVN theo các Ban kỹ thuật tiêu chuẩn (TCVN/TC) đã mang lại những kết quả rõ rệt: Thời hạn xây dựng TCVN được rút ngắn, chất lượng TCVN được nâng cao, huy động được sự tham gia của nhiều bên liên quan vào quá trình xây dựng TCVN... Để phát triển công tác TCH, chúng ta đã thành lập: Uỷ ban Điện IEC - Việt Nam (năm 1994); Uỷ ban Codex - Việt Nam; EAN Việt Nam (năm 1994) và hơn 100 Ban và Tiểu ban kỹ thuật tiêu chuẩn, với sự tham gia của khoảng 700 chuyên gia thuộc hầu hết các ngành và lĩnh vực. Hệ thống TCVN đã phát triển cả về lượng và chất, hiện nay có khoảng 6.000 TCVN có hiệu lực (trong tổng số gần 9.000 TCVN đã ban hành). Từ năm 1998 đến nay, việc thúc đẩy và xúc tiến hoạt động TCH tại cơ sở (doanh nghiệp) được chú trọng. Thực hiện Đề án triển khai Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại theo Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2006 Trung tâm đã và đang tổ chức rà soát, chuyển đổi hệ thống TCVN hiện hành thành tiêu chuẩn quốc gia theo quy định của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật. Trong những năm gần đây, hằng năm Trung tâm tổ chức soát xét và xây dựng mới từ 500 đến 600 TCVN. Để thực hiện nhiệm vụ này, Trung tâm đã có sự cộng tác của hàng trăm cán bộ, chuyên gia thuộc hầu hết các bộ ngành, lĩnh vực. Năm 1995, Việt Nam tham gia vào Tổ chức Mã số - Mã vạch quốc tế EAN (năm 2005 đổi thành GS1), từ khi được cấp mã quốc gia 893 đến nay đã có hơn 7000 mã doanh nghiệp được cấp cho các cơ sở, ngoài ra MSMV đang được nghiên cứu để áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế- xã hội.

Giải thưởng Chất lượng Việt Nam được triển khai thực hiện vào năm 1996 theo Quyết định số 1352-QĐ-TĐC ngày 8/5/1995 của Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, từ đó đến nay đã có gần 1000 lượt doanh nghiệp được trao giải, trong đó có 34 doanh nghiệp được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Ngoài ra từ năm 2000 đến nay đã có 17 doanh nghiệp Việt Nam được trao Giải thưởng Chất lượng Quốc tế Châu Á - Thái Bình Dương (IAPQA) do Tổ chức Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQO) thiết lập. Được giao tổ chức thực hiện Giải thưởng Chất lượng Việt Nam từ năm 2005, Trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao chất lượng, uy tín của Giải, để Giải thưởng Chất lượng Việt Nam ngày càng phát triển. Việc tham gia vào các hoạt động TCH quốc tế và khu vực đã và đang được triển khai khá mạnh mẽ trong những năm gần đây. Là thành viên chính thức của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO từ 1977, đến nay, Việt Nam là thành viên P (thành viên tham gia) của 9 Ban/Tiểu ban kỹ thuật và là thành viên O (thành viên quan sát) trong 62 Ban/Tiểu ban kỹ thuật, đồng thời cũng tham gia hoạt động của 3 Ban chuyên môn khác của ISO: CASCO, INFCO, DEVCO...; đã tham gia xây dựng hai tiêu chuẩn ISO, góp ý cho hàng chục dự thảo văn bản nghiệp vụ và hàng trăm dự thảo TCQT. Việc tham gia các hoạt động TCH trong khuôn khổ ASEM, APEC/SCSC, ACCSQ... cũng như các quan hệ hợp tác song phương với các tổ chức TCH quốc tế, khu vực và quốc gia, các công ty nước ngoài khác được duy trì thường xuyên và đã mang lại những lợi ích rất thiết thực về nhiều mặt.

Phát triển hệ thống TCVN theo hướng hội nhập quốc tế Để công tác TCH ở Việt Nam thực sự trở thành công cụ quan trọng phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đã định hướng phát triển hệ thống TCVN theo các nội dung sau: - Áp dụng rộng rãi và có hiệu quả trong thực tiễn. - Bao trùm được các đối tượng sản phẩm, hàng hoá, quá trình và dịch vụ phổ biến nhằm đáp ứng được yêu cầu quản lý của Nhà nước; bảo vệ sức khoẻ, an toàn, vệ sinh, môi trường; nâng cao chất lượng, uy tín và sức cạnh tranh phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, xuất khẩu; thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ và phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác. - Đạt trình độ KH&CN ngang bằng các nước tiên tiến trong khu vực và có mức độ hài hoà cao với các TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến trong những lĩnh vực xác định thông qua việc tăng cường chấp nhận các TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến thành TCVN, đồng thời tiếp tục soát xét để thay thế các TCVN lạc hậu, không còn phù hợp. - Đồng bộ về các nội dung (loại) tiêu chuẩn cho từng đối tượng, cụ thể: TCVN về yêu cầu kỹ thuật phải có TCVN về phương pháp thử kèm theo. - Áp dụng các hướng dẫn phương pháp luận và các nguyên tắc mới nhất của ISO/IEC về cấu trúc, thể hiện nội dung và trình bày nhằm đẩy nhanh quá trình chấp nhận TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến thành TCVN, tạo tiền đề để Việt Nam dễ dàng tham khảo và tham gia vào quá trình xây dựng các tiêu chuẩn đó trong thời gian tới. - Huy động sự tham gia của nhiều bên liên quan, tập hợp các chuyên gia giỏi, có kinh nghiệm và đại diện của các cơ quan quản lý, các tổ chức KH&CN, các tổ chức tiêu thụ hoặc người tiêu dùng và các thành phần khác có liên quan, đặc biệt cần thu hút nhiều hơn nữa đại diện của các cơ sở sản xuất kinh doanh tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn. Việc thực hiện tốt những định hướng nêu trên sẽ góp phần cải tiến và nâng cao trình độ KH&CN của hệ thống TCVN nói chung, cũng như tăng cường hài hoà hệ thống TCVN với các hệ thống TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến cả về phương pháp luận xây dựng tiêu chuẩn lẫn nội dung, hình thức của các tiêu chuẩn tương đương để góp phần giảm bớt và tiến tới xoá bỏ những rào cản kỹ thuật không cần thiết trong thương mại. Thuận lợi và khó khăn trong phát triển hệ thống TCVN Thuận lợi Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ 1/7/2007; Nghị định 127/2007/NĐ-CP ngày 1.8.2007 của Chính phủ và nhiều Thông tư, Quyết định của Bộ KH&CN đã được ban hành, là cơ sở pháp lý cho việc phát triển hoạt động TCH ở nước ta. Nền kinh tế Việt Nam phát triển theo xu thế tăng cường hội nhập, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động TCH tham gia hội nhập với khu vực và quốc tế. Kinh nghiệm và kết quả hoạt động tiêu chuẩn đo lường chất lượng hơn 45 năm của Việt Nam cũng là nền tảng quý báu cho hoạt động của Trung tâm. Khó khăn Trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung còn thấp so với các nước trong khu vực và càng thấp hơn so với các nước phát triển. Việc đưa hoạt động quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng vào các doanh nghiệp còn chậm và chưa có hiệu quả rõ rệt, mặc dù nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng đối với sự phát triển của mình. Ví dụ: Việc áp dụng các bộ tiêu chuẩn TCVN đồng bộ hài hoà với TCQT như TCVN ISO 9000 và TCVN ISO 14000 mặc dù đã trở thành một phong trào rộng rãi nhưng chưa thực sự phát huy tác dụng theo chiều sâu. Sự tham gia của các doanh nghiệp vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn còn yếu. Kinh phí dành cho xây dựng tiêu chuẩn còn bị hạn chế, chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước. Việc phối hợp giữa cơ quan TCH với các bộ/ngành, các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp trong hoạt động TCH còn chưa được chặt chẽ và thường xuyên. Trở ngại ngôn ngữ là một trong những khó khăn, thách thức đã và đang tồn tại. Việc chấp nhận TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến thành TCVN trở nên tốn kém và mất thời gian.
Một số biện pháp phát triển hệ thống TCVN Hài hoà TCVN với TCQT, TCKV và TCNN tiên tiến nhất thiết phải được xác định là một định hướng ưu tiên trong chính sách phát triển hoạt động TCH ở nước ta giai đoạn hiện nay: Đây là một yêu cầu cần được triển khai thực hiện có hiệu quả nhằm nhanh chóng phát triển hệ thống TCVN đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước trên thị trường trong và ngoài nước. Nâng cao nhận thức về TCH ở mọi cấp/ngành và đối với mọi cộng đồng trong xã hội: Mặc dù hoạt động TCH ở nước ta đã được tiến hành hơn 45 năm, đã thực sự khẳng định được vị trí của mình như là công cụ quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đã đi vào nền nếp và hoạt động có tổ chức để phục vụ đắc lực sự phát triển của đất nước, nhưng trong thực tế, nhận thức về vai trò của TCH thực sự còn chưa đồng đều, nhiều nơi, nhiều lúc còn chưa cao, thậm chí còn bị coi nhẹ. Để nâng cao nhận thức về TCH cần thực hiện các biện pháp: Thực hiện các hình thức tuyên truyền, phổ biến đa dạng và sâu rộng ở mọi cấp/ngành nhằm tạo thói quen sử dụng tiêu chuẩn trong quản lý, sản xuất kinh doanh và trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội; đưa TCH trở thành bộ môn giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề như nhiều nước đã làm.
Tăng cường tham gia các hoạt động TCH quốc tế và khu vực, mở rộng sự hợp tác với các cơ quan TCH nước ngoài: Việc hội nhập hoạt động TCH của Việt Nam với hoạt động TCH quốc tế và khu vực cũng như sự tăng cường hợp tác với các cơ quan/tổ chức TCH nước ngoài là một đòi hỏi tất yếu khách quan để bảo đảm cho hoạt động TCH của Việt Nam ngày càng phát triển, tiến kịp và đáp ứng có hiệu quả yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập về kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cải tiến và đổi mới cơ chế cấp kinh phí, đa dạng hoá nguồn kinh phí cho hoạt động TCH: Cơ chế cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước cho việc xây dựng các TCVN cần được cải tiến và đổi mới trên cơ sở xem xét một cách đầy đủ các nội dung công việc cần thiết, nghĩa là không chỉ bao gồm chuyển dịch tiêu chuẩn, tổ chức các cuộc họp của Ban/Tiểu ban kỹ thuật (hoặc tổ chức biên soạn), lấy ý kiến chuyên gia, ấn loát,… mà còn có các nội dung khác đảm bảo tính khả thi của TCVN được xây dựng và đảm bảo cho TCVN được áp dụng có hiệu quả như: Khảo sát, khảo nghiệm, thử nghiệm, phổ biến áp dụng, đánh giá hiệu quả áp dụng và soát xét. Chính vì vậy, kinh phí xây dựng TCVN nói chung cần được nghiên cứu để điều chỉnh theo hướng tăng hơn so với mức quy định hiện nay. Mặt khác, ngoài kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, việc huy động kinh phí từ các nguồn khác là rất cần thiết. Ví dụ huy động từ Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia; đóng góp của các tổ chức, doanh nghiệp sẽ áp dụng TCVN; sự hỗ trợ tài chính từ các dự án hợp tác quốc tế và nước ngoài... Nếu không đa dạng hoá được các nguồn kinh phí thì hoạt động xây dựng TCVN sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đào tạo nguồn nhân lực đủ năng lực và trình độ: Hoạt động TCH trong những năm gần đây đã có nhiều thay đổi cơ bản về cách thức tổ chức và quản lý. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, các cán bộ làm công tác TCH phải có trình độ và năng lực phù hợp và do đó, cần phải được đào tạo lại và đào tạo nâng cao để nắm vững nghiệp vụ TCH, kiến thức chuyên ngành và ngoại ngữ. Các cán bộ này, ngoài việc đảm đương các nhiệm vụ TCH trong nước, cần có khả năng tham gia tích cực trong các tổ chức TCH quốc tế và khu vực mà Việt Nam là thành viên. |